Gỡ điểm nghẽn tín dụng: Không để ngân hàng đơn độc trước rủi ro nông nghiệp
Thực tiễn triển khai tín dụng ở khu vực tam nông của Agribank cho thấy, muốn vốn xanh đến được với nông nghiệp, cần có tiêu chí rõ, dữ liệu đủ, bảo hiểm thực chất, liên kết chuỗi chặt chẽ và cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp; điều đó cũng có nghĩa dòng vốn cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh không thể được khơi thông chỉ bằng yêu cầu mở rộng cho vay hoặc giảm lãi suất.
Tư duy cũ khó theo kịp mô hình mới
Trong sản xuất nông nghiệp truyền thống, tín dụng thường được thiết kế theo chu kỳ mùa vụ, dựa trên phương án sản xuất, lịch sử vay trả, tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ của khách hàng. Cách tiếp cận này phù hợp với nhiều khoản vay ngắn hạn. Nhưng khi nông nghiệp chuyển sang mô hình số, xanh, tuần hoàn, phát thải thấp, cách thẩm định cũ bộc lộ nhiều giới hạn.
Một hợp tác xã đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm, quản lý vùng trồng bằng nhật ký điện tử, sản xuất theo tiêu chuẩn, có hợp đồng bao tiêu, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải có thể tạo ra giá trị lớn trong dài hạn. Nhưng giá trị đó không nằm hoàn toàn ở đất đai hay nhà xưởng, mà ở quy trình sản xuất, dữ liệu, chứng nhận, hợp đồng liên kết, năng lực quản trị và khả năng đáp ứng thị trường. Đây là những tài sản mới, nhưng chưa dễ lượng hóa trong quy trình thẩm định tín dụng.
.jpg)
Phân tích tại Hội thảo "Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh", ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi chỉ rõ, mô hình tín dụng hiện nay còn nhiều nút thắt: cấp vốn vẫn chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp; quy mô tín dụng nhỏ lẻ, phân tán; dữ liệu nông nghiệp còn thiếu, rời rạc và chưa được cập nhật liên tục. Việc mỗi ngân hàng có chuẩn xanh khác nhau cũng khiến quá trình tiếp cận tín dụng thiếu đồng bộ.
Từ đó có thể thấy 3 điểm nghẽn lớn. Thứ nhất là thiếu tiêu chí nhận diện thống nhất thế nào là nông nghiệp số, nông nghiệp xanh. Nếu tiêu chí chưa rõ, ngân hàng khó phân loại khoản vay, doanh nghiệp khó chứng minh dự án, hợp tác xã khó tiếp cận ưu đãi.
Thứ hai là thiếu dữ liệu dùng chung. Muốn cho vay theo dòng tiền và chuỗi giá trị, ngân hàng cần dữ liệu về vùng trồng, vật nuôi, sản lượng, hợp đồng đầu ra, lịch sử sản xuất, tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, bảo hiểm, lịch sử tín dụng. Khi dữ liệu thiếu, tổ chức tín dụng buộc phải quay lại cách thẩm định an toàn hơn là dựa vào tài sản bảo đảm.
Thứ ba là rủi ro trong nông nghiệp chưa được chia sẻ đúng mức. Nông nghiệp chịu tác động trực tiếp của thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả, thị trường xuất khẩu và thay đổi tiêu chuẩn kỹ thuật. Nếu rủi ro chỉ dồn về người vay và ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ có xu hướng thận trọng. Điều này càng rõ với Agribank, ngân hàng có độ phủ lớn ở nông thôn, trực tiếp đối diện với rủi ro mùa vụ, thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường.
Tín dụng gắn với chương trình, chuỗi giá trị và dữ liệu
Agribank là tổ chức tín dụng hàng đầu trong đầu tư phát triển tam nông luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là thị trường đầu tư chiến lược. Vốn Agribank đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 30% tổng nguồn vốn đầu tư tín dụng nông nghiệp, nông thôn của toàn hệ thống tổ chức tín dụng, đạt gần 1 triệu tỷ đồng và luôn duy trì khoảng 70% tổng vốn đầu tư của Agribank.
Thời gian qua, Agribank đã tham gia 4 dự án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ) về chống biến đổi khí hậu, giảm phát thải, quản lý tài nguyên bền vững, phát triển cho vay chuỗi giá trị thông minh với gần 60 triệu USD, tương đương khoảng 1.500 tỷ đồng; đồng thời tiếp tục phối hợp thực hiện 4 dự án khác với tổng giá trị khoảng 1.200 tỷ đồng. Những dữ liệu này cho thấy tín dụng nông nghiệp xanh muốn đi xa phải gắn với chương trình, đề án, dữ liệu và cơ chế phối hợp liên ngành, không thể chỉ dựa vào quan hệ vay - trả đơn lẻ.
Từ đó, hướng đi quan trọng là phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị. Nếu cho vay từng hộ đơn lẻ, ngân hàng khó kiểm soát đầu vào, đầu ra và rủi ro thị trường. Ngược lại, nếu cho vay theo chuỗi, ngân hàng có thể nhìn thấy toàn bộ vòng đời sản xuất, từ cung ứng giống, tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ đến dòng tiền. Khi chuỗi vận hành ổn định, rủi ro tín dụng giảm, khả năng tiếp cận vốn của người sản xuất cũng tăng lên.
Minh chứng cho cách làm này, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho biết, ở Đồng Tháp - nơi người dân và các doanh nghiệp nông nghiệp đã tham gia tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp từ nhiều năm nay; kết quả là chính họ đã góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. "Bởi vậy, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý đối với mô hình liên kết chuỗi trong nông nghiệp, tạo cơ sở để ngân hàng mở rộng cho vay theo chuỗi giá trị" - ông Phạm Văn Hòa đề xuất.
Cùng với tín dụng theo chuỗi, bảo hiểm nông nghiệp phải trở thành một cấu phần quan trọng của chính sách tín dụng. Tại hội thảo "Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh" do Báo QQ88c Xóc Đĩa QQ8823 Bóng Đá tổ chức, ông Lê Đình Huy, Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm Agribank cho rằng, bảo hiểm không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn đóng vai trò "màng lọc" và "bệ đỡ" đối với tín dụng nông nghiệp, đặc biệt trong quá trình chuyển sang nông nghiệp số và nông nghiệp xanh. Theo đó, cần ban hành tiêu chí cụ thể về nông nghiệp số, nông nghiệp xanh; xây dựng cơ sở dữ liệu nông nghiệp dùng chung, kết nối với hệ thống ngân hàng; phát triển bảo hiểm nông nghiệp và bảo lãnh tín dụng; ưu tiên tín dụng theo chuỗi giá trị; có cơ chế chia sẻ rủi ro đối với các chương trình tín dụng phục vụ mục tiêu công như giảm phát thải, chuyển đổi số, thích ứng biến đổi khí hậu.
Trong quá trình đó, Agribank là một trong những lực lượng triển khai quan trọng, nhưng không thể đơn độc trước rủi ro của nông nghiệp. Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh thực chất là xây dựng cơ chế để ngân hàng, người sản xuất và Nhà nước cùng chia sẻ trách nhiệm; để dòng vốn không chỉ "bơm tiền" cho sản xuất, mà còn tổ chức lại nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh hơn và bền vững hơn.