Giám tuyển Ace Lê“Một nền kinh tế khỏe phải đi đôi với nền nghệ thuật mạnh”
Trong giới mỹ thuật vài năm trở lại đây, ACE LÊ được biết đến với tư cách giám tuyển độc lập, nhà nghiên cứu và người “gác cổng” cho nhiều cuộc chơi nghệ thuật lớn.
Cầu nối giữa nghệ thuật, nghệ sĩ và khán giả
- Triển lãm “Trời, Non, Nước” vừa diễn ra tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Anh là “cầu nối”, góp phần đưa 20 tác phẩm tiêu biểu của vua Hàm Nghi đến người yêu nghệ thuật Thủ đô. Điều gì thôi thúc anh tích cực thúc đẩy tổ chức các triển lãm phi thương mại như vậy?

Ảnh: NVCC
- Vấn đề tiên quyết của nghệ thuật Việt Nam là rào cản tiếp cận còn quá lớn, nhất là hạ tầng cơ sở giáo dục. Chúng ta không phổ cập lịch sử mỹ thuật từ cấp tiểu học, trung học, dẫn tới lỗ hổng trong nhận thức của đại chúng về nghệ thuật. Bên cạnh lý thuyết, trải nghiệm còn quan trọng hơn. Hệ thống kinh viện, bảo tàng công của Việt Nam còn nhiều hạn chế về ngân sách và chuyên môn trong khâu giám tuyển, trưng bày và quảng bá tác phẩm, nên đại đa số công chúng chưa có thói quen đi xem triển lãm và bảo tàng.
Điều lớn nhất tôi học được khi thực hành giám tuyển trong bối cảnh Việt Nam là tìm lại được căn tính của chính mình thông qua nghiên cứu về căn tính dân tộc. Để kể được câu chuyện mỹ thuật Việt, tôi đặt ra yêu cầu tiên quyết, đó là phải viết nội dung - từ tựa đề đến bài luận và nội dung không gian - bằng tiếng Việt trước, sau đó mới dịch ra tiếng Anh. Điều này là quan trọng, bởi nó ảnh hưởng rất nhiều tới cách người viết suy nghĩ và người xem hấp thụ kiến thức.
Giám tuyển Ace Lê
Trong bối cảnh đó, các triển lãm phi thương mại như Trời, Non, Nước của Art Nation góp phần lan tỏa nghệ thuật hàn lâm tới cộng đồng. Từ đó, hỗ trợ hệ thống kinh viện và giáo dục phổ biến trải nghiệm và kiến thức về văn hóa nghệ thuật, vốn là căn bản cho sức mạnh mềm của mỗi dân tộc. Triển lãm kín khán giả cho tất cả khung giờ, tiếp nhận hơn 100.000 lượt thăm trong 2 tuần, cho cả chặng ở Huế và Hà Nội, với nhiều phản hồi tích cực và cảm động. Đó là động lực rất lớn cho đội ngũ chúng tôi tiếp bước.
- Từ thực tiễn quan sát, anh nhìn nhận thế nào về thị trường mỹ thuật Việt Nam?
- Một nền nghệ thuật lành mạnh phải được xây trên hạ tầng cơ sở vững chãi. Hạ tầng đó trước hết bao gồm khung chính sách, luật pháp để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia. Thứ đến là hệ thống giáo dục, cần có bộ môn tiếp cận mỹ thuật và lịch sử mỹ thuật cho trẻ em, đi kèm hệ thống bảo tàng, kinh viện công để đưa nghệ thuật đến gần với công chúng hơn.
Dựa trên hạ tầng cơ sở đó ta mới xây được thượng tầng kiến trúc, gồm các bên mua (nhà sưu tập, quỹ đầu tư, kinh viện công và tư), bên bán (nghệ sĩ), bên môi giới (nhà đấu giá, phòng tranh, nhà môi giới độc lập) và các dịch vụ liên quan trong hệ sinh thái (nghiên cứu, phê bình, giám tuyển, hậu cần, bảo hiểm...).
Chúng ta đang thiếu một hạ tầng vững chãi, nên thượng tầng phải tự điều phối nhiều vấn đề với nhau. So với những nước như Indonesia, Thái Lan hay Malaysia, thị trường mỹ thuật Việt Nam đi sau họ cả chục năm, chứ đừng nói tới Singapore hay Trung Quốc.
Mỹ thuật Việt phải được kể bằng người Việt
- Anh từng nêu quan điểm: Mỹ thuật Việt phải được kể bằng người Việt. Điều này nên được hiểu như thế nào?
- Xuyên suốt 100 năm lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam, câu chuyện mỹ thuật Việt trên bối cảnh toàn cầu thường được kể tại các kinh viện quốc tế hoặc các ấn phẩm phân phối toàn cầu, thông qua con mắt nhà nghiên cứu phương Tây hoặc vị Tây phương. Điều này bắt nguồn từ vị thế Việt Nam là một nước hậu thuộc địa, thuộc nhóm yếu thế về kinh tế. Tuy nhiên, trong 40 năm sau đổi mới, chúng ta đã tăng trưởng mạnh mẽ, dần lấy lại vị thế vững chãi. Phong trào hồi hương tác phẩm ở hải ngoại đã và đang lan rộng. Các nhà đấu giá lớn đã nhận ra điều này, nên ngày càng tôn trọng tiếng nói bản địa.

Mỹ thuật Việt phải được kể tốt nhất bởi người Việt. Đó là câu chuyện ta phải học từ những cường quốc văn hóa như Nhật Bản, với sự tự tôn văn hóa không thỏa hiệp. Đó là việc phải nghiên cứu, diễn giải và trưng bày mỹ thuật Việt Nam tại Việt Nam bằng tiếng Việt, cho người Việt xem, đọc và cảm nhận. Đó là trách nhiệm không chỉ của nhà đấu giá, mà còn của khán giả và nhà sưu tập trong nước.
Vai trò quyền lực mềm của mỹ thuật
- Anh kỳ vọng như thế nào về tương lai của thị trường mỹ thuật Việt?
- Về mặt thị trường trong tương lai gần, theo tôi, nhóm danh họa Đông Dương sẽ vẫn nằm trong nhóm tạo kỷ lục giá. Nhưng 10 - 20 năm nữa, khi có đủ khoảng lùi, việc xuất hiện những tên tuổi mới là tất yếu. Có rất nhiều danh họa quan trọng không kém lứa Phổ - Thứ - Lựu - Đàm nhưng chưa được chú ý xứng đáng, sẽ dần dần lộ diện. Có thể kể đến nhóm họa sĩ Pháp tới Đông Dương, hay nhóm họa sĩ trường vẽ Gia Định, vốn được thành lập trước cả Trường Mỹ thuật Đông Dương ngoài Bắc.
Nhìn rộng ra, kỷ lục 3 triệu USD cho Chân dung cô Phượng của Mai Thứ vẫn thấp so với các danh họa hiện đại trong Đông Nam Á. Với sự tham gia của người chơi trong khu vực, tôi dự đoán tranh Đông Dương sẽ còn tiếp tục tự phá kỷ lục giá.
- Nước ta đang thúc đẩy chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, xác định mỹ thuật là một trong những ngành mũi nhọn. Từ thực tiễn, anh có đề xuất gì để phát triển thị trường mỹ thuật Việt Nam?
- Về mặt chính sách, ta có thể học hỏi nhiều từ quốc tế. Cụ thể có 3 khía cạnh quan trọng. Thứ nhất, phổ cập giáo dục về lịch sử nghệ thuật ở các cấp 1, 2, 3. Thứ hai, hỗ trợ về thuế cho các cá nhân doanh nghiệp triển khai hoạt động bảo trợ nghệ thuật (chính sách này đã được đề cập ở Nghị quyết số 28/2026/QH16 của QQ8886 Khuyến Mãi về phát triển văn hóa Việt Nam). Thứ ba là nguyên tắc “1%”, trong đó các công trình công cộng đều dành 1% ngân sách cho việc đưa nghệ thuật vào việc xây dựng và vận hành không gian.
Singapore là quốc gia đi tắt đón đầu về cả 3 phương diện này và họ đã làm rất thành công. Một nền kinh tế khỏe phải đi đôi với nền nghệ thuật mạnh, đóng vai trò quyền lực mềm không thể thay thế.
- Xin cảm ơn anh!