Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ:Tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động chuyển giao công nghệ
Nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm kịp thời tháo gỡ, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam.
Phát triển thị trường khoa học công nghệ hiện đại, minh bạch, hiệu quả
Một trong những điểm mới quan trọng của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ là mở rộng khái niệm công nghệ theo hướng: công nghệ không chỉ giới hạn ở máy móc, thiết bị mà còn bao gồm tri thức, dữ liệu, thiết kế, mô hình, thuật toán, phần mềm và trí tuệ nhân tạo. Cách tiếp cận này phản ánh đúng xu thế phát triển hiện nay, khi giá trị gia tăng của nền kinh tế ngày càng tập trung vào các tài sản vô hình, mô hình sáng tạo linh hoạt và giải pháp số.

Luật đồng thời quy định rõ các hình thức chuyển giao như tài liệu công nghệ, quy trình quản lý chất lượng, tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật, qua đó tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho các giao dịch công nghệ trong thực tiễn.
Nội dung cũng nhận được nhiều sự quan tâm và mang tính đột phá của Luật là cơ chế thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển thị trường khoa học công nghệ. Với mục tiêu hướng đến là xây dựng thị trường khoa học công nghệ hiện đại, minh bạch và hiệu quả, Luật chú trọng phát triển các tổ chức trung gian - yếu tố then chốt của thị trường. Các tổ chức môi giới, tư vấn, đánh giá công nghệ, thẩm định giá và kết nối cung - cầu được hỗ trợ phát triển chuyên nghiệp và minh bạch hơn. Đồng thời, việc xây dựng các sàn giao dịch khoa học công nghệ và cơ chế hỗ trợ đổi mới sẽ khắc phục những điểm yếu lâu nay của các tổ chức trung gian, tạo nền tảng vận hành thông suốt cho thị trường.
Với quan điểm chuyển giao công nghệ không chỉ phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh mà còn phục vụ các mục đích quốc phòng, an ninh, nghiên cứu, ứng dụng phục vụ xã hội, công ích... Luật bổ sung quy định Nhà nước mua và phổ biến công nghệ của nước ngoài hoặc trong nước để phục vụ các mục đích nêu trên.
Về cơ chế tài chính, Luật cho phép chi phí chuyển giao công nghệ được tính là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp; đồng thời, tiếp tục hỗ trợ đổi mới công nghệ thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, các quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở trung ương và địa phương.
Một điểm mới đáng chú ý khác là Luật cải cách mạnh mẽ thủ tục thẩm định công nghệ theo hướng thực hiện rút ngắn, tinh gọn thủ tục thẩm định công nghệ đối với các dự án đầu tư; điều chỉnh quy định về thẩm định công nghệ đối với các dự án đầu tư sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao, công nghệ có nguy cơ tác động xấu đến môi trường theo nguyên tắc "mỗi dự án chỉ thực hiện thẩm định công nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ một lần. Điều này phù hợp với nguyên tắc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, vì các hậu quả nếu xảy ra sẽ khó khắc phục và chi phí cao hơn nhiều so với kiểm soát sớm. Luật cũng sửa đổi Điều 13 nhằm bảo đảm quản lý rủi ro, đồng thời, giảm thủ tục cho nhà đầu tư.
Bên cạnh cải cách thủ tục thẩm định công nghệ, Luật cũng thực hiện phân cấp thẩm định công nghệ cho địa phương; đồng thời, đi kèm quy định rõ ràng, công bố công khai kết quả thẩm định và quyền giám sát, hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước. Hậu kiểm được tăng cường nhằm ngăn ngừa các rủi ro như nâng khống giá công nghệ, tiếp nhận công nghệ lạc hậu hoặc gây ô nhiễm môi trường nhưng không tạo rào cản cho hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, Luật đặt trọng tâm vào chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động giám sát, thống kê và công bố công khai hoạt động chuyển giao công nghệ. Các quy định chi tiết, mang tính định lượng được giao Chính phủ hướng dẫn nhằm bảo đảm linh hoạt, kịp thời và phù hợp với thực tiễn. Theo đó, Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế hậu kiểm với chế tài mạnh; đồng thời, quan tâm toàn bộ vòng đời công nghệ: từ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Ưu tiên chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong nước
Thể chế hóa yêu cầu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ đã chỉnh lý chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển giao trong nước; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài; thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước.

Luật đã bổ sung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ứng dụng, đổi mới công nghệ qua mạng lưới tổ chức khoa học công nghệ, tổ chức trung gian của thị trường khoa học công nghệ, Quỹ đổi mới công nghệ, quỹ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo các Bộ, ngành, địa phương.
Về định hướng ưu tiên, Luật bổ sung và làm rõ các nhóm công nghệ ưu tiên chuyển giao, gồm: công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ sạch, công nghệ xanh, công nghệ phục vụ dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, quốc phòng và an ninh. Đáng chú ý, Luật lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “công nghệ xanh” và đưa nhóm công nghệ này vào danh mục ưu tiên chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam cũng như chuyển giao trong nước.
Luật cũng nhấn mạnh yêu cầu làm chủ và cải tiến công nghệ sau chuyển giao. Bên nhận chuyển giao công nghệ có quyền cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ trên cơ sở công nghệ được chuyển giao theo pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định liên quan. Quy định này nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao, hạn chế tình trạng tiếp nhận công nghệ nhưng không hình thành và phát triển được năng lực nội sinh.